Từ bản tin dự báo thời tiết, tôi được biết chỉ vài ba hôm nữa là trời đổ mưa, hôm nay không khí lạnh của vùng áp thấp nhiệt đới đang hình thành, kéo dài từ vùng biển Quảng Bình đang thổi về hướng đông nam, Chúng tôi đang lo lắng cho cuộc hành trình của ngày trại liên kết Dũng gồm ba gia đình Trúc Lâm , Hòa Đồng và Xá Vệ. Tôi được tín nhiệm làm trại trưởng, nên đã lên kỹ kế hoạch của ngày trại Dũng trong mùa xuất gia mồng tám tháng hai này.
Kỳ lạ thay, mới vào đầu mùa xuân, mà thời tiết đã thay đổi quá nhiều, quê của tôi đang ở hiện tại là vùng trời của Miền trung, với bốn mùa mưa nắng rõ ràng, vậy mà…
Từ mờ sáng, Tôi đã có mặt tại chùa Trúc Lâm, với hành trang là một túi ba lô đã củ kỷ, chiếc ba lô này đã theo tôi đi trong suốt những cuộc trại từ Dũng cho đến Liên trại không sao nhớ hết được, tôi đăm chiêu trong tiềm thức. Tôi tìm lại cái cảm giác lần đầu tiên được đi trại bay, nhân ngày vía xuất gia. Phật lịch hai ngàn năm trăm mười lăm. Lúc đó tôi còn là một chú bé “oanh vũ” sắp được cắt dây treo, trước ngày dự trại, tôi tự trang bị đầy đủ như lời anh trưởng dặn dò, đi trại cùng với một vài thứ cần dùng như tăng trại, dây dù, cọc nhôm, gậy gổ, xẻng cá nhân gấp xếp lại được, rồi nào là dao xếp, thùng quẹt, muỗng, đũa và có cả chén ăn cơm, ngoài bộ đồng phục áo lam quần soot có hai sợi dây vãi treo trên vai, tôi còn cỏng theo một túi gạo, bi đông nước, mùng mền, bộ quần áo xơ cua, xì dầu, muối và một túi dụng cụ cứu thương. Thôi thì đủ cả những thứ đã được học ở bậc tung bay.
Như còn thấy thiếu tôi tọng thêm vào túi mấy lon đồ hộp "bê ba" của Mỹ. Vậy là khệ nệ khiêng, vì sức nặng của ba lô đã bằng một phần hai trọng lượng cơ thể của tôi. Thấy con mình cõng trên người chiếc ba lô nặng trĩu, bước chân đi cóng róng, ba mẹ tôi cười và nói :“ sao con tham vậy, không lượng đến sức của mình”. Ba bắt tôi mỡ ba lô ra để kiễm tra, và nói đùa:” con chỉ mang theo chén , muỗng để ăn cơm thôi cho nhẹ, còn mọi thứ để lại nhà”. Rồi cười ngặc nghẽo, má tôi thấy vậy cũng cười theo, phô cả hàm răng đen bóng vì nhuộm và ăn trầu, mĩm cười hiền hậu, đến chảy cả nước mắt. Mặt tôi nóng bừng khi thấy ba tôi lần lược lấy ra từng đồ vật, nghĩ là ba sẻ không cho đi trại nữa, hai mắt tôi ươn ướt, mũi đỏ hoe sắp bật ra tiếng khóc, nhưng cố ghìm lại khi nghĩ là tối nay mình đã là người“trưởng thành” khi vượt qua được thử thách “ bay trong rừng.” Vì chỉ còn vài phút nữa thôi là tôi phải tập trung tại chùa tỉnh hội như quy định, vậy mà…giờ đây sự chuẩn bị của tôi hầu như sắp bị sụp đổ. Tôi theo dõi từng hành động của ba, ba tôi sắp xếp lại những vật dụng cần thiết vào ba lô, phần còn lại như xẻng xếp, tăng trại và dây cọc thì ba tôi lại cho vào chiếc bao vải dựng cát, vừa làm, ba tôi vừa phân tích: "con phân làm hai ra, đồ đoàn thì mang trên vai cho nhẹ, còn những vật dụng của trại thì con xách trên tay, đến đất trại con khỏi phải mỡ ba lô để kiếm vật dụng đóng trại".Tôi đã nhận thấy đó là kinh nghiệm của người lớn.
Nghe vậy, tôi nhẹ cả người, còn hơn bắt được cả vàng. Tôi mừng rơn vì thoát khỏi cái nổi sợ hãi “không được đi trại nữa”!. Thấy còn nặng, ba bảo để ba lấy xe chở đến chùa cho kịp.Tôi lẽo đẽo theo sau với chiếc xe đạp củ cà tàng, vành năm trăm, lốp mit sơ lanh đã mòn của chị hai tôi cho.
Đến nơi, tôi đã thấy các anh thiếu nam đang nhận hiệu lệnh từ chiếc tù và được làm bằng sừng trâu, dáng dấp của anh huynh trưởng đoàn trong bộ đoàn phục, đầu đội mũ tứ ân, làm cho tôi thấy thật oai và nghiêm nghị, tôi bẻn lẻn bắt ấn chào và xin phép được vào đội, anh hướng dẩn tôi đến đội sen vàng của anh Danh, đội trưởng của đoàn thiếu nam Kiên Thệ, nhưng không quên phạt tôi thụt dầu đến hai mươi lần vì cái tội đi trể, tôi làm theo anh như một cái máy, tai tôi nóng lên không phải vì bị phạt mà sợ “quê” với ba tôi, lần đưa mắt nhìn quanh để tìm ba, nhưng ba đã về tự lúc nào.Thật hú hồn. tôi cố đưa mắt nhìn qua một lượt, chỉ bắt gặp ánh mắt hiền từ của bác gia trưởng Bùi Viết Kháng trong bộ áo dài màu đen đầu đội khăn đóng, chăm chú nhìn tôi gật đầu khẻ mĩm cười.
Chưa hết, bàng hoàng, nhận được lệnh lên đường, anh Danh tuýt còi dục tôi mang ba lô lên vai, cột đôi gậy gỗ dọc theo một bên sườn xe, cúi rạp người chồm lên phía trước, cố gắng đạp xe để phóng theo cho kịp các anh thiếu nam vào nghĩa trang khu sáu. Đội của tôi có hơn hai chục anh thiếu nam và lớp oanh của tôi cũng ngót hơn mười bạn.
Tại đây tôi được biết đến anh Tâm Chí - Châu Đức Liên, nguyên là huynh trưởng đoàn Kiên Thệ, và cũng trãi qua một thời là liên đoàn trưởng của gia đình tôi, anh đã vĩnh viển ra đi trong thời gian ở trong quân ngủ năm sáu lăm. Sau khi thắp nhang và nghe anh Danh kể lại một đoạn tiểu sử của anh Đức Liên xong, chúng tôi lại tiếp tục lên đường, lúc này tuy còn nhỏ nhưng với tinh thần của trại, tôi theo sau các anh thật sung sức và chấp hành đúng luật đi đường. Mặt dù chưa biết gì, nhưng thỉnh thoảng tôi cũng dừng lại để quan sát dấu đi đường và ghi lại thật tỉ mỉ, chính xác ( Chỉ vẽ lại dấu thôi, chứ chưa điền nội dung của dấu được.) Lần theo dấu đi đường, các anh đã đưa tôi đến một ngôi chùa, thú thật tôi chưa bao giờ thấy ngôi chùa nào mà to và rộng như thế sau hơn hai tiếng đồng hồ đạp xe.
Đập vào mắt của tôi là tượng Phật Thích Ca được đúc bằng xi măng, phủ bên ngoài nước vôi trắng toát uy nghi và hiền hậu. Thấy các anh chắp tay đầu cúi xuống, miệng lâm râm nho nhỏ, tôi cũng nhanh nhẩu làm theo các anh, cũng mấp máy môi nhưng tôi không biết lúc đó tôi đã nói những gì, hoặc cũng chẳng có nói được lời nào trước hình tượng của đức Phật cũng nên.Có nghĩa là thấy mấy anh làm sao, ôi cũng bắt chước vậy, chứ chưa có ý thức được hành động và việc làm của mình.mãi sau này tôi mới biết đó là Tu viện Nguyên Thiều. cái nôi sinh ra biết bao nhiêu vị Tăng đồ nổi tiếng.
Nhận được còi lệnh dựng trại, ôi thôi, cái bao tải đựng vật dụng trại của tôi đâu mất rồi, tôi ra chiều suy nghĩ, cố moi lại trong trí nhớ mà vẩn không sao nhớ nổi hiện nay nó đang ở đâu, có lẽ do trong lúc còn bàng hoàng tôi đã quên nó ở chùa trước khi lên xe đuổi theo cho kịp các anh thiếu nam trong đội. Mắt rưng rưng, thôi chết chuyến này thì phải biết đòn dưới tay của ba mất, đang tần ngần thì anh Phan duy Thanh liên đoàn trưởng chạy chiếc xe máy sáu bảy chạy trờ tới và la lên rối rít. ”cái bao tải này là của em nào, đã để quên tại nơi xuất phát”.
-Mừng hết lớn, tôi vội chạy đến và thưa: “ dạ của em anh ạ”.Rồi cúi gầm mặt như chờ đợi một điều gì đó sắp xãy đến với tôi.
Vậy là một trận cười nữa lại nhao lên, khi tôi phải chịu thêm mười lăm cái hít đất vì để quên đồ đạc cá nhân.”Sao lại đen đủi thế nhỉ” tôi tự nhủ.
Trại đã được dựng xong, tôi còn bị anh Danh phạt đi kiếm lá và cành cây khô để về thi nấu cơm, mặt mũi lem luốc, hốc hác vì bụi và khói.quần áo thôi thì hết biết, xộc xạch, nhăn nhó, dính đầy bụi đỏ và lọ nghẹ.Nồi cơm của đội chúng tôi không có giải nào cả vì cái mùi “khen khét” chết tiệt kia cứ phản phất từ nắp vung khi được mỡ ra, chưa hết lại còn khô và sống nữa chứ. Thế là chiều hôm đó cả đội phải chịu ăn cho hết nồi cơm ấy, ấy vậy mà cũng cạn sạch cả nồi, vì nghe các anh dặn “không được phung phí hạt ngọc của trời, nếu để lại đem đổ thì mắc phải tội với đức Phật”.
Đêm hôm đó, một vòng tròn quanh lữa hồng, chúng tôi cùng nắm tay nhau nhảy lữa, chốc chốc ánh lữa lại bật phừng mạnh lên soi rọi sáng cả một vùng, vì “ ông thần lữa đã thổi vào trong đống lữa ấy vài ngụm dầu hỏa” rồi có khi có những đám khói màu lam cuồn cuộn lên do anh quản lữa dập vào đám lữa một bó cành cây tươi, lữa và khói bốc lên theo tiếng hát vang rền giữa một khu đất rộng trong tu viện, ánh sáng lung linh và huyền ảo soi rỏ từng khuôn mặt của cả trăm người trong đoàn thiếu nam Kiên Thệ, tôi đứng xen kẻ giữa các anh trong đoàn, nào hát, nào múa tập thể và được xem các anh diển trò. Vui và hay đáo để.Ước gì tôi cũng được diển như các anh ấy, có lẽ thấy chúng tôi còn quá nhỏ nên các anh đã không để cho chúng tôi được tự do ra sân diển, tôi thắc mắc và hỏi anh đội trưởng, thì được anh giải thích:“ lo gì, đêm nay các anh diển để cho các em được học tập, hẹn đến mùa Dũng năm đến thì chính các em cũng phải ra diển như các anh ngày hôm nay vậy”.Quàng tay lên đôi vai tôi anh nói thêm: “ Em hãy cố gắng nhé “. Thế là rõ, chúng tôi còn quá thiếu nhiều kinh nghiệm so với các anh, vậy mục đích đi theo các anh là để được học hỏi nhiều hơn nữa.
Vì quá vui, lại được sống xa nhà lần đầu, hầu như chúng tôi ai nấy đều không biết mệt và buồn ngủ, tôi cũng theo các anh ngồi nghe câu chuyện lữa tàn, lúc ấy sương trời cũng đã sa xuống thấm ướt cả đầu tóc và bộ quần áo đồng phục tôi đang mặt. Ai nấy cũng mệt nhừ vì thấm lạnh. Chia tay nhau trong vòng tròn của đêm lữa trại, lữa bây giờ đã tắt ngúm, chỉ còn lại một đống tro hồng nóng hổi.thỉnh thoảng lại bật lên cháy do một cơn gió thổi qua như để đốt trọn vẹn những mẫu cây khô còn xót lại.
Về dến trại, không kịp tắm rữa, tôi lăn quay ra ngủ với các anh thiếu nam, phần thì mồ hôi nhể nhại, ướt thấm vào trong áo quần cộng với cái thấm của sương vùng núi, trời xe lạnh, tôi quơ tay ôm ngang bụng của một anh thiếu nam, ai nấy cũng đều toát ra một mùi hăng hăng, là lạ như chưa từng hít qua bao giờ, khó ngủ nhưng vì mệt tôi đã thiếp đi lúc nào không biết.
Đến nữa đêm, mặt trăng cũng đã nhô lên trên đỉnh đầu,rọi xuống trần thế một màu sáng yếu ớt và lạnh, một hồi còi tù và rúc lên, tất cả đều bật dậy, làm tôi cũng giật cả mình, không biết xãy ra việc gì. Nhanh chóng xếp hàng ngay ngắn trước anh liên đoàn trưởng, một cuộc điễm danh và báo cáo. Sau khi đầy đủ, Anh Thanh đã dẩn câu chuyện về ngài thái tử xuất gia trong đêm, một mình chống chọi lại với ma vương và thú dữ để tìm nơi tu luyện, trãi qua biết bao nhiêu sóng gió của cuộc đời để cuối cùng ngài được chứng ngộ thành Phật, mà hôm nay kinh điển đã lưu truyền cho hâu thế, anh phân ra bốn đội và hẹn tập trung tại một điễm ở tại chân tháp bánh ít.
Các anh thiếu nam đã để chúng tôi lại và dặn, đến khi nào nghe tiếng còi hiệu thì cứ theo tiếng còi ấy mà đi, nghe qua thì rất sợ, nhưng vẩn phải chấp hành, hẹn gặp nơi có tiếng còi báo liên hồi, đó cũng là trạm cuối.
Mặt dầu rất sợ, chưa biết sự việc sẻ diển biến như thế nào, tôi xung phong dẩn đầu, vì biết rằng các bạn cùng trang lứa với tôi cũng tỏ ra sợ hơn tôi nhiều. Mò mẫm trong đêm tối, may mà có ánh tăng chỉ đường, tôi cứ lần mò theo dấu con đường mòn được phát ra trong bụi cây rậm rạp. khi thì có tiếng chó kêu tru, khi thì gặp một lùm cây động đậy, run bần bật mặt dù lúc ấy trời không có gió, dưới ánh trăng tôi bất chợt rùng mình khi nhìn thấy từng đốm lữa nhỏ lúc ẩn lúc hiện xuất hiện ở phía trước, nhiều tiếng la í ới, bước chân càng lúc càng dồn dập, đi như chạy , nhanh dần và nhanh dần, trống ngực của tôi đập nhanh và mạnh, tiếng còi vẩn thổi đều và chậm rãi, mặt kệ tôi khuyên các bạn vừa đi vừa niệm Phật cho đở sợ, vòng quanh một hồi cả nhóm chúng tôi cũng lần theo được tiếng còi thúc gọi. sắp đến nơi, bổng tiếng còi ngưng hẳn, chúng tôi đứng giữa một sân rộng và bằng phẳng đã tráng nhựa đường, sau này lớn lên tôi mới biết đó là một sân bay trực thăng dã chiến ở phía mặt sau lưng của hai ngôi tháp chàm.
Bất chợt có ánh lữa lóe lên rồi tắt hẳn bên trong tháp, rồi lại có tiếng hú từng quảng, như linh tính cho biết có người ở trong tháp, chúng tôi cùng tiến sát đến cữa của tháp, có bạn còn hiến kế nhặt đá theo để phòng thân khi cần thiết, vậy là chúng tôi tự động nghe theo, chứ không biết cầm đá theo để làm gì?
Bụp bụp, hai viên đá được ném vào trước để thăm dò, tiếp theo vài viên nữa, cũng chưa thấy động tỉnh gì, tiếng vọng của đá và âm thanh im lặng của đêm khuya, làm rỏ cả tiếng côn trùng rã rích, khiến chúng tôi ai nấy đều chột dạ. và tiếng bụp chát chúa kèm theo cả tiếng la “ úi da” rõ to sau đó là tiếng còi thổi lên liên tục báo hiệu đã đến đích, ai nấy trong chúng tôi đều lạnh cả người, gai ốc bắt đầu nổi lên khắp người nghe rờn rợn, sau đó là tiếng cười nói của các anh thiếu nam đồng thanh ùa ra. Bấy giờ chúng tôi mới nhẹ nhõm cả người. Qua câu chuyện chúng tôi biết được người suýt bị đá ném trúng là anh Danh đội trưởng của chúng tôi. Hú hồn, nhở anh ấy bị thương thì làm sao nhỉ.?
Tiếng còi tập họp, chúng tôi xếp thành bốn hàng theo đội, trước mặt chúng tôi là anh Đoàn trưởng, sau khi điễm danh và báo cáo trước ban quản trại. anh huynh trưởng Phan Duy Thanh, cũng là trại trưởng đã khen ngợi chúng tôi đã dũng cãm đi đến đích, dặn dò và nhắc nhỡ chúng tôi đã được công nhận “trưởng thành”sau một màn thử thách,và dùng kéo cắt bỏ lần lược hai chiếc dây treo của chúng tôi đang còn vắt ngang qua vai.
Chúng tôi thật sung sướng và hứa sẻ sống xứng đáng với một đoàn sinh đoàn thiếu mới, luôn tu học và nghe theo lời hướng dẩn của các anh đã đi trước. Buổi lể được kết thúc khi chúng tôi được các anh huynh trưởng của đoàn oanh vũ nắm tay chúng tôi lên giao cho anh đoàn trưởng mới, và không quên dặn dò chúng tôi hãy dũng cãm ,và dõng mãnh như chú sư tử Kiên Thệ khi được lên chung sống với một đoàn mới - Đoàn thiếu nam Kiên Thệ.
Chia tay nhau sau một đêm và hai ngày đi trại, tôi vẩn còn tiếc rẽ, giá như ngày trại còn lâu hơn nữa, để chúng tôi gom kiến thức càng nhiều, để sau này, một ngày nào đó, cũng được thay thế các anh hướng dẩn lại các lớp đàn em nối bước.
Ba má tôi bây giờ cũng đã già,tuổi cũng đã ngoài tám mươi, tuổi mà mọi người gọi là cổ lai hy , xưa nay hiếm, và có một thời gian dài ba tôi làm gia trưởng của gia đình phật tử Kỳ Hoàn, và ban bảo trợ gia đình phật tử tỉnh Bình Định, ngót ngét gần bốn mươi năm rồi còn gì, nhưng lúc nào tôi cũng nhớ đến cái ngày được “ trưởng thành “ ấy. Thiện duyên tôi lại được tiếp tục sinh hoạt với gia đình phật tử, nơi đã hun đúc tinh thần và rèn luyện cho tôi trở thành người phật tử thuần thành và hướng thiện.
Tôi mong sao sức khỏe được dồi dào, luôn trao dồi kiến thức, tu học để nối tiếp bước chân cha anh, những người huynh trưởng lão thành, hy sinh và tận tụy, đóng góp chút sức mọn gìn giữ tiền đồ của tổ chức gia đình phật tử ngày càng thơm danh phụng sự xã hội và đạo pháp.
Pl.2553 Mùa Dũng
Quảng Hiệp
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét